August 21, 2019
  • 11:32 am Nhà quản lý tài chính
  • 9:59 am Dịch vụ giúp việc ngày Tết
  • 1:56 pm Tôi đã lấy vợ là giúp việc
  • 3:46 pm Nên có hợp đồng với người Giúp việc?
  • 3:21 pm Đóng Bảo hiểm xã hội tự nguyện để hưởng lương hưu

Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Trung tâm Nghiên cứu giới, gia đình và phát triển cộng đồng, Tổ chức lao động thế giới ILO tại Việt Nam đã tổ chức hội thảo Tham vấn đề hợp đồng tiêu chuẩn đối với lao động giúp việc gia đình tại Việt Nam. Tại hội thảo, các chuyên gia cho biết, trong những năm gần đây, nhu cầu sử dụng lao động giúp việc gia đình ngày càng tăng. Đến nay, mặc dù những quy định của pháp luật về hợp đồng lao động giúp việc gia đình đã tương đối đầy đủ rõ ràng nhưng hiệu quả áp dụng lại rất thấp, nghề giúp việc gia đình vẫn đang phát triển một cách tự phát.

Trung tâm giới thiệu Giúp việc gia đình tại Hà Nội

Theo bà Ngô Thị Ngọc Anh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu giới, gia đình và Phát triển cộng đồng, hiện nay lao động giúp việc gia đình tại nước ta có đến  98,6% là nữ giới, tập trung ở độ tuổi trung bình khoảng 44,8 tuổi. Điều đáng nói là phần lớn trong số họ là những người chưa qua đào tạo, trình độ học vấn thấp, 20% có trình độ dưới tiểu học, 57% học hết THCS. Qua khảo sát thực tế, những giúp việc gia đình và người đang có mong muốn làm công việc giúp việc gia đình đều không quan tâm, hiểu về các điều luật, hợp đồng liên quan đến giúp việc gia đình. Theo luật, người làm công việc giúp việc gia đình được tham gia  BHXH, BHYT, nhưng thực tế, lại có đến 91,6% người giúp việc gia đình không có lương hưu và trợ cấp xã hội thường xuyên. Chỉ có khoảng 3%  lao động giúp việc gia đình có BHXH, nhưng phần lớn do họ tham gia khi còn công tác tại các đơn vị khác trước khi làm giúp việc gia đình. Có 19,5% người làm công việc này có BHYT, trong đó, đa số là tự mua hoặc được Nhà nước chi trả theo diện gia đình chính sách, hộ nghèo.

Cũng theo chuyên gia này, lao động giúp việc gia đình hiện nay vẫn còn gặp rất nhiều thách thức trong quá trình làm việc như không được qua đào tạo, dẫn đến khó khăn khi làm một số công việc gia đình; bất đồng về lối sống với gia đình nhà chủ; định kiến xã hội về nghề nghiệp. Nhiều người còn coi họ là những người đi làm thuê, ở đợ, chưa có thái độ tôn trọng. Ngoài ra những người giúp việc gia đình cũng bị hạn chế cơ hội giao tiếp với bên ngoài. Ngoài mức lương người lao động có thể vẫn được hưởng thêm những khoản phụ cấp, thưởng khác. Tuy nhiên, do không có hợp đồng lao động, nên tất cả những khoản này đều phụ thuộc vào lòng hảo tâm của chủ nhà, không mang tính cố định, vững chắc.

Từ thực tế này, bà Tống Thị Minh – Cục trưởng Cục quan hệ lao động và Tiền lương (Bộ LĐ-TB-XH) cho rằng cần bổ sung điều khoản đặc biệt ngoài tiêu chuẩn chung để đảm bảo được quyền lợi của nhóm lao động này. Vì vậy, theo bà Minh cần thiết phải có hợp đồng mẫu mang tính chất gợi ý,  khuyến cáo để các bên có thể tham khảo đưa vào thỏa thuận hợp đồng tương đối đầy đủ.

Chúng ta nghiên cứu và  tham khảo nghị định số 27/2014/nđ-cp của chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật lao động về lao động là người giúp việc gia đình quy định:

  1. Người ký kết hợp đồng lao động bên phía người sử dụng lao động:
  2. a) Chủ hộ là người đại diện của hộ gia đình có thuê mướn, sử dụng lao động là người giúp việc gia đình theo quy định của pháp luật;
  3. b) Người được chủ hộ hoặc các chủ hộ cùng thuê mướn, sử dụng lao động là người giúp việc gia đình ủy quyền bằng văn bản;
  4. c) Người được các thành viên trong hộ gia đình hoặc được các thành viên của các hộ gia đình cùng thuê mướn, sử dụng lao động là người giúp việc gia đình ủy quyền bằng văn bản. Văn bản ủyquyền theo phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư này.

Chủ hộ và người được ủy quyền ký hợp đồng lao động quy định tại điểm a, điểm b và điểm c Khoản 1 Điều này là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật. Người được ủy quyền ký kết hợp đồng lao động không được tiếp tục ủy quyền cho người khác ký kết hợp đồng lao động.

Giúp việc gia đình đang được xã hội quan tâm
  1. Chủ thể ký kết Hợp đồng lao động bên phía người lao động:
  2. a) Người lao động từ đủ 18 tuổi trở lên;
  3. b) Người lao động từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có văn bản đồng ý của người đại diện theo pháp luật của người lao động. Người đại diện theo pháp luật của người lao động là cha đẻ hoặc mẹ đẻ, cha nuôi hoặc mẹ nuôi hoặc người giám hộ hợp pháp của người lao động.

Văn bản đồng ý của người đại diện theo pháp luật của người lao động theo phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư này.

Người lao động là giúp việc gia đình phải tự mình thực hiện việc kí kết hợp đồng lao động. Trong trường hợp ký kết hợp đồng lao động với người lao động không biết chữ thì:

+ Người sử dụng lao động đọc đầy đủ, rõ ràng toàn bộ nội dung hợp đồng lao động để người lao động nghe và thống nhất nội dung trước khi ký hợp đồng lao động.

+ Người lao động thực hiện ký hợp đồng lao động với người sử dụng lao động bằng hình thức điểm chỉ.

+ Trường hợp có người thứ ba không phải là thành viên của hộ gia đình thuê mướn, sử dụng lao động là người giúp việc gia đình làm chứng thì trong hợp đồng lao động phải ghi rõ họ và tên, số chứng minh nhân dân hoặc số hộ chiếu, hộ khẩu.

Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ký hợp đồng lao động, người sử dụng lao động có trách nhiệm thông báo với Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người lao động làm việc về việc sử dụng lao động là người giúp việc gia đình.

  1. Hình thức của Hợp đồng lao động giúp việc gia đình.

Điều 180 – BLLĐ năm 2012 quy định:

3.1. Người sử dụng lao động phải ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản với người giúp việc gia đình.

3.2. Thời hạn của hợp đồng lao động đối với lao động là người giúp việc gia đình do hai bên thoả thuận. Một bên có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động bất kỳ khi nào nhưng phải báo trước 15 ngày.

3.3. Hai bên thỏa thuận, ghi rõ trong hợp đồng lao động về hình thức trả lương, kỳ hạn trả lương, thời giờ làm việc hằng ngày, chỗ ở .

Việc quy định hình thức hợp đồng lao động với người giúp việc gia đình phải bằng văn bản là cần thiết, nhằm cụ thể hóa thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ của các bên, là cơ sở cho việc giải quyết tranh chấp.

Quan hệ lao động giúp việc gia đình phát sinh dựa trên hình thức pháp lý là hợp đồng lao động. Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa Người sử dụng lao động và Người lao động về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ mỗi bên trong quan hệ lao động. Nguyên tắc khi giao kết hợp đồng lao động giúp việc gia đình  cũng giống như nguyên tắc chung là tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực. Các bên được tự do giao kết hợp đồng nhưng không trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội. Điều 7 công ước 189 của ILO quy định yêu cầu các quốc gia thành viên phải thực hiện những biện pháp nhằm đảm bảo rằng lao động giúp việc gia đình phải được thực hiện thông qua hợp đồng bằng văn bản theo quy định của pháp luật, thỏa ước lao động tập thể.

 

DMCA.com Protection Status